Thuyết Minh Về Lễ Hội Cồng Chiêng Tây Nguyên

Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây NguyênđượcUNESCOcông nhận làKiệt tác truyền khẩu và phi vật thểnhân loạivào ngày15 tháng 11năm2005.

Bạn đang xem: Thuyết Minh Về Lễ Hội Cồng Chiêng Tây Nguyên


Cồng chiêng xuất hiện từ bao giờ chưa thấycó nghiên cứu sâu nào nói về vấn đề này. Theo cách hiểu truyền thống thì cồngchiêng Tây Nguyên có xuất xứ từ vùng người Việt, người Lào. Mới đây căn cứ vàoviệc phát hiện các di chỉ khảo cổ ở Lung Leng (Kon Tum), nhất là về mặt kỹ thuậtcủa các khuôn, có nhà khảo cổ học cho rằng rất có thể cư dân Tây Nguyên bản địađã làm được cồng chiêng từ rất lâu.Dù cồng chiêng Tây Nguyên do các tộcngười cư trú lâu đời tự đúc hay nhập từ vùng người Việt, người Lào hay thế nàođi chăng nữa, nhưng có một số điều ai cũng phải thừa nhận là người Tây Nguyên bảnđịa diễn tấu cồng chiêng rất tài tình, điệu nghệ. Không gian văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên, về không gian địa lý, cần hiểu theo ý nghĩa hẹp và ý nghĩa rộng.
Về nghĩa hẹp: cồng chiêng Ê đê chỉ diễn tấutrong ngôi nhà dài, khu mộ địa, trên rẫy; cồng chiêng Mơ Nông diễn tấu trongngôi nhà trệt, ngoài sân, trên đường lên rẫy,người Gia rai đánh chiêng trướcngôi nhà rông theo điệu xoang (múa) và khu mộ địa.
Về nghĩa rộng: cách đây không lâu, vào nhữngnăm 80, 90 của TK XX (tất nhiên càng về trước lại càng như vậy), khi đặt chân đếnvùng đồng bào cư trú lâu đời ở Tây Nguyên vào mùa thu hoạch mùa màng, đối vớingười Ê đê cả mùa ăn năm uống tháng (hua mnăm thun), đứng từ xa thì nghe tiếngchiêng, đến gần thì nghe tiếng hát. Đêm đêm thỉnh thoảng tiếng chiêng lại vanglên dồn dập, hấp dẫn, thôi thúc, cuốn hút người nghe. Đó là không gian văn hóacồng chiêng Tây Nguyên.
Dĩ nhiên, không gian văn hóa cồng chiêng gắnliền với các chỉnh thể văn hóa khác như nghi lễ, lễ hội, tín ngưỡng, phong tụctập quán...
Theo dòng lịch sử văn hóa nhân loại thì cồng chiêng trong khu vực Đông Nam Á xuất hiện khá sớm và trở thành một nét vănhóa riêng , văn hóa truyền thống của các dân tộc. Bắt nguồn từ đời sống cộng đồngcác dân tộc mà điểm xuất phát là từ laođộng sản xuất, tập quán cư trú sinh sống của bà con các dân tộc thiểu số nên cồngchiêng tây nguyên mang giá trị nổi bật của tài năng sáng tạo, bắt rễ từ văn hóavà lịch sử của các cộng đồng dân tộc trởthành biểu tượng khẳng định bản sắc vănhóa cộng đồng. Nhìn trên toàn diện thì đây là “tiếng nói của Việt Nam” nhưng thậtsự thì đây là 1 dòng chảy văn hóa mang sắc thái riêng biệt. Vì vậy mà KhôngGian Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên đã được tổ chức UNESCO công nhận là “di sảnvăn hóa phi vật thể của nhân loại”.
Không gian văn hóa cồng chiêng TâyNguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng vàchủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên:Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê, Giarai... Cồng chiêng gắn bó mật thiếtvới cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn conngười, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạthàng ngày của họ.
Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóavà lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiênglà "hậu duệ" của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìmđến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá... tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới cóchiêng đồng... Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới,xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng - là phương tiện giao tiếp với siêunhiên... âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện vớitiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời vàcon người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơsinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâmtrâu.. . hay trong một buổi nghe khan... đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêngdài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.
Cồng chiêng không do cư dân Tây Nguyêntự đúc ra mà xuất phát từ một sản phẩm hàng hoá (mua từ các nơi khác về) đượcnghệ nhân chỉnh sửa thành một nhạc cụ. Phương pháp chỉnh sửa chiêng cộng vớitai âm nhạc nhạy cảm của nghệ nhân sửa chiêng đã thể hiện trình độ thẩm âm tinhtế và hiểu biết cặn kẽ về chế độ rung và lan truyền âm thanh trên mặt chiêng vàtrong không gian. Có hai phương pháp chỉnh sửa mà người nghệ nhân ở Tây Nguyênsử dụng: Gõ, gò theo hình vảy tê tê và theo hình lượn sóng. Do vậy, kỹ thuậtgõ, gò theo đường tròn trên những điểm khác nhau quanh tâm điểm của từng chiếcchiêng là một phát hiện vật lý đúng đắn, khoa học (mặc dù trình độ phát triểnxã hội của người Tây Nguyên thuở xưa chưa biết đến vật lý học). Đây là sáng tạolớn của cư dân các dân tộc ít người Tây Nguyên.
Để đáp ứng các yêu cầu thể hiện bằng âmnhạc khác nhau, các tộc người Tây Nguyên đã lựa chọn nhiều biên chế dàn cồngchiêng khác nhau:
Dàn chiêng có 2 hay 3 chiếc: Biên chếnày tuy nhỏ nhưng theo quan niệm của nhiều tộc người Tây Nguyên, đây là biênchế cổ xưa nhất. Dàn 2 chiêng bằng gọi là chiêng Tha, của người Brâu; dàn 3cồng núm của người Churu, Bana, Giarai, Gié-Triêng... cũng thuộc loại này.
Dàn chiêng có 6 chiêng phổ biến ở nhiềutộc người: Dàn 6 chiêng bằng của người Mạ; dàn Stang của người Xơđăng; dànchiêng của các nhóm Gar, Noong, Prơng thuộc dân tộc Mnông; dàn chiêng Diek củanhóm Kpạ người Êđê. Cũng có dàn gồm 6 cồng núm như nhóm Bih thuộc dân tộc Êđê.Dàn chiêng 6 chiếc có thể đảm trách nhịp điệu như dàn cồng núm của nhóm Bihthuộc dân tộc Êđê, dàn Diek của nhóm Kpạ dân tộc Êđê, dàn chiêng của nhóm Noongdân tộc Mnông.
Dàn chiêng 11 hoặc 12 chiếc gồm 3 cồngnúm và 8-9 chiếc chiêng bằng của các tộc người Giarai (ngành Aráp), Bana (ngànhTồLồ, Kon K’Đeh), người Xơđăng (ngành Steng).
Các dàn chiêng có biên chế 3 chiêng trởlên thường có chiếc trống lớn và cặp chũm choẹ. Riêng dàn 3 cồng núm của ngườiChuru thì phải có chiếc khèn 6 âm phối hợp.
Ở nhiều tộc người như Churu, Xơđăng,Mnông và đặc biệt tộc người Giarai, Bana, phụ nữ (nhất là các cô gái trẻ) làmthành một dàn múa đồng hành với bản nhạc chiêng. Điều đáng nói là các điệu múanày được coi là thành tố không thể thiếu của việc diễn tấu các bài cồng chiêng(không được dùng bên ngoài diễn tấu cồng chiêng hoặc trình diễn giải trí).
Cồng chiêng là một nhạc cụ nghi lễ, cácbài nhạc cồng chiêng trước hết là sự đáp ứng cho yêu cầu của mỗi lễ thức vàđược coi như một thành tố hữu cơ của lễ thức đó. Như thế, mỗi nghi lễ có ítnhất một bài nhạc chiêng riêng. Trong mỗi nghi lễ, lại có thể có nhiều côngđoạn có nhạc chiêng riêng: Người Aráp dân tộc Giarai ở vùng Ea H’Leo tỉnh ĐắcLắc có các bài nhạc chiêng cho các lễ đâm trâu, khóc người chết trong tang lễ,mừng nhà rông mới, mừng chiến thắng, lễ xuống giống, lễ cầu an cho lúa, mùagặt... Ngoài ra, còn có những bài chiêng dùng cho các sinh hoạt cộng đồng như:Lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh, mừng nhà mới, chúc sức khoẻ...
Các bài chiêng cũng đạt đến một trình độbiểu cảm âm nhạc phù hợp với trạng thái tình cảm của con người trong mỗi nghilễ: Chiêng tang lễ hay bỏ mả thì chậm rãi, man mác buồn; chiêng mùa gặt thìthánh thót, vui tươi; chiêng đâm trâu thì nhịp điệu giục giã...
Cồng chiêng được giới nghiên cứu xem là mộtnhạc khí dân gian bởi độ vang, cao thấp, khả năng diễn tấu của nghệ nhân, nghệthuật tạo âm sắc của nó. Cấu tạo thang âm, điệu thức một bộ chiêng có nhiều điểmkhác nhau. Có bộ chỉ gồm 2 chiếc cho đến bộ đầy đủ lên tới 15 hoặc 18 chiếc.Ở những bộ chiêng như thế có cồng là loại có núm thường giữ chức năng đệm vàchiêng là loại không có núm, còn gọi làchiêng bằngthể hiện bài bản,giai điệu.Cồng chiêng gắn liền với lễ hội mà lễ hội dân gian của các dântộc bản địa ở Kon Tum khá dày, diễn ra quanh năm với chukỳ sinh trưởng củacây lúa rẫy, chu kỳ một đời người và những sự việc liên quan tới cộng đồng(plei).
Cồng chiêng có khảnăng trình diễn độclập, nhưng cũng có thể kết hợp với nhiều loại nhạc khí khác, kể cả giọng hát củacon người. Nếu lễ hội dân gian quy tụ được rất nhiều loại hình nghệ thuật trìnhdiễn, trong đó có cồng chiêng thì khi cồng chiêng lên tiếng sẽ thu hút sinh hoạtcủanhiều người nhất, nghệ thuật diễn tấu của cồng chiêng cũng chiếm thờilượng nhiều nhất trong lễ hội. Hầu như tất cả các lễ hội dân gian đều có mặt cồngchiêng dù ở quy mô nhỏ như gia đình hoặc lớn hơn là của cả cộng đồng.
Ngoài ra, đối với đồng bào các dân tộc thiểusố, cồng chiêng còn được xem là vật thiêng gắn với đời sống tâm linh của họ. Vớitín ngưỡng dân gian đa thần, vạn vật hữu linh nên những bộ chiêng thiêng đềucóYàng(trời) trú ngụ (được gọi làchiêng lễ), chỉ được đưa rasử dụng trong phần lễ của những lễ hội lớn, long trọng. Ở phần hội hoặc sinh hoạtthường ngày, họ sử dụng các loại chiêng thường (còn gọi làchiêng hội). Nhữngloại chiêng thiêng ở Kon Tum có thể kể tớiLào viêng(nhóm HàLăng),Xteng(Xơ đăng gốc),Kh’leng và Xum(nhóm Giẻ),Pom,pát(GiaraiAráp),Buar( Xơ Đăng Sơđrá),Tha(B"Râu)...Cồng chiêng đóng vai trò vô cùng quan trọngtrong đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh của đồng bào các dân tộcthiểu số Kon Tum. Với con người, từ lễ thổi tai của trẻ sơ sinh đếnlễ bỏ mả; với cây lúa, từ lễ bói điềm, chọn đất đến thu hoạch,đóng cửa kho; với cộng đồng, từ lễ tu sửa máng nước đến mừng NhàRông mới... bất cứ lễ hội nào cũng không thể vắng bóng cồng chiêng,ứng với mỗi hoàn cảnh ấy là một bài chiêng khác nhau, và ngay tronglễ hội, các bài chiêng cũng đánh theo tiết tấu, nhịp điệu khác nhau,tuỳ theo không khí chung của lễ hội.
Về số lượng của từng bộ chiêng, theo kết quảnghiên cứu khá kỹ của các chuyên viên nghiên cứu ngành văn hóa tỉnh cho thấy ởKon Tum có những điểm khá đặc biệt và rất lạ so với các tỉnh khác trong khu vực,có đủ thứ tự từ ít đến nhiều như là có sự sắp đặt, đó là có loại chiêng chỉ có1 chiếc như chiêngBuarcủa nhóm Xơ đăng Sơđrá. Có 2 chiếc nhưchiêngThacủa dân tộc B"Râu. Có 3 chiếc như chiêngLào, Pom,Pátcủa nhóm Xơ đăng Hà Lăng. Có 3 chiếc rưỡi (thêm một ống nứa) nhưchiêngNỉcủa nhóm Triêng, chiêngKh’lengcủa nhóm Giẻ. Có4 chiếc như chiêngMẻ, Vạchcủa nhóm Xơ đăng Mơ nâm, chiêngGuôngcủanhóm Xơ đăng Sơđrá. Có 5, 6 chiếc như chiêngXumcủa nhóm Giẻ.Có từ 7-9 chiếc như chiêngX"teng(Pơm Poa) của người Xơ đăng gốc.Có từ 12-18 chiếc rất hoành tráng như chiêngAnia, Pơsơicủangười Gia Rai Aráp...có thể nói rất đa dạng, phong phú và độc đáo, đồng thờicũng là niềm tự hào về bản sắc văn hóa dân gian truyền thống của các dân tộcthiểu số Kon Tum.
ỞKon Tum, cùng với đàn T"rưng, Klông Pút, Đinh Túk, cồng chiêng là nhạccụ đặc trưng nhất của đồng bào các dân tộc thiểu số bản địa. Ngoài vaitrò là phương tiện diễn tấu dân gian, cồng chiêng còn thể hiện quyềnuy, sự giàu sang của gia đình, dòng tộc, bản làng, là vật thiêngtrong tín ngưỡng tâm linh của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Cồngchiêng và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng của đồng bào các dân tộcthiểu số Kon Tum khá đa dạng, phong phú. Đặc điểm chung, nổi bật củadàn cồng chiêng là sự kết hợp linh hoạt những âm thanh cao, thấp, tạonên sự phối bè khác nhau. Kết hợp với cồng chiêng còn có cả trống,lục lạc... tạo nên sự hoà âm phong phú. Quyện hoà trong tiết tấu,giai điệu của cồng chiêng là những âm thanh nghe như giai điệu của rừngđại ngàn, của suối reo, thác chảy; lấp lánh sắc màu của nắng, củagió, của đất; là tâm hồn mộc mạc, chân thành, khoáng đạt của đồngbào các dân tộc thiểu số. Có bộ thì âm điệu trầm hùng, đĩnh đạc như là mộtsự giới thiệu về đại ngàn Kon Tum hùng vĩ, có bộ thì âm điệu lại réo rắt, nỉnon với những giai điệu, tiết tấu hòa quyện như những lời tự sự kể về nhữngtruyền thuyết, những câu chuyện về những dòng sông, con suối, cánh rừng, mùa màng,về đất và người Kon Tum…hết sức trữ tình bằng ngôn ngữ âm thanh vô cùng độcđáo, chỉ riêng có ở nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng.
Đốivới đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum, từ xưa cồng chiêng đã được coi là củacải, bởi bao giờ cồng chiêng cũng thể hiện giá trị ở một số thứ tài sản quý, mộtloại của cải vật chất mà từ nó có thể phân biệt được sự giàu nghèo, trước đâygia đình nào cũng mơ ước có được một bộ cồng chiêng. Tuy nhiên, điều quan trọngở chỗ đấy là bộ chiêng gì. Bởi vì có loại chiêng chỉ ngang giá một vài con trâu(thời giá hiện nay khoảng vài ba triệu đồng) nhưng cũng có loại chiêng giá trịtới 30-40 con trâu một bộ. Có nhiều chiêng quý là giàu có, là sức mạnh, đượcngười khác kính trọng. Dòng họ nào, làng nào có nhiều cồng chiêng sẽ được cácdòng họ khác, làng khác nể nang, tôn trọng.
-Nhạc Cụ: Tây Nguyên có nhiều loại cụ khác nhau và được sử dụng rộng rãi trongcác hoạt động nghỉ lễ, hội hè…Công Cụ nổi bật nhất của chúng là tạo nền cho cácnghi thức tế lễ, phối tấu cùng với ca hát và “mở đầu” các động tác nhảy múa.
-Cồng Chiêng: Tây Nguyên là cộinguồn của văn hóa cồng chiêng. Cồngchiêng không chỉ là tài sản quý báu của mỗi gia đình, dòng họ trong nghi lễ vàsinh hoạt văn hóa cộng đồng, nó còn là khí cụ linh thiêng, ngôn ngữ kỳ diệu đểcon người giao tiếp với các vị thần linhtrong trời đất.
Hầu hết các dân tộc Tây Nguyên đều sử dụng cồngchiêng, cái có núm gọi là cồng (kuồng), loại không có núm thì gọi là chiêng(chim hay cing). Cồng chiêng có hình tròn , đường kính cái lớn nhất khoảng 65cm, cái nhỏ không đến 20cm.
*

*

-Kết cấu bộ chiêng của người Banathường từ 6 – 7 – 9 – 11 cái và được chia làm nhiều thứ loại , căn cứ vào kíchthước , sắc diện, âm thanh…và mỗi chiếccó chức năng riêng, có những chiếc chính có những chiếc đánh theo. Thông thường, cồng đảm nhiệm phầnđệm và giữ nhịp, còn chiêng đảm nhận phần giai điệu. Cùng kết hợp với cồngchiêng có cả trống, lục lạc, chuông đồng…để tạo sự hòa âm phong phú hơn. Đặc điểmchung nổi bật của dàn cồng chiêng là sự kết hợp linh hoạt, những âm thanh caothấp khác nhau tạo nên bè khác nhau, các loại âm, tiết tấu vừa khác nhau vừahòa hợp với nhau khi diễn tấu một bài cồng chiêng.
-Người Giẻ Triêng thường dùng bộchiêng 6 cái , một cái giữ phần đệm và 5 cái giữ phần giai điệu , có khi kết hợpcả trống và các nhạc cụ tre nứa khác.
Chiêng của người Brâu có 3 loại: Chiênggoong 1 bộ có 11 cái, chiêng Mam 1 bộ có 11 cái , nhưng chiêng Tha chỉ có 2 cái, 1 chiêng vợ và 1 chiêng chồng, loại chiêng Tha chỉ dùng trong nghi lễ quan trọngcủa cộng đồng.
-Người Ê đê gọi chiênglàching. Mỗi một bộ chiêng Ê đê gồm 9 chiếc, trong đó 7 chiếc không cónúm làknah,hliăng,khơk, hluê khơk, hluê hliăng, hluê khơkdiêtvàchar(to nhất); hai chiếc có númlàmduhvàmong.Một là dàn hợp xướng của dàn nhạc Ê đê làbao gồm 9 chiếc chiêng này và trống(hgơr).Người Ê đê dùng dùi làm bằnggỗ câysmuk(gỗ cây này mềm, dai) để đánh chiêng, trống...
Cồng chiêng Ê đê được diễn tấu trong các lễcúng như cúng chúc thọ, cúng bến nước, cúng thu hoạch mùa màng, trong các lễ hộinhư lễ rướckpan, lễ bỏ mả, ăn trâu,... Khi diễn tấu là theo các quy địnhcủa tục lệ, chứ không tùy tiện. Người Ê đê chỉ được diễn tấu suốt ngày đêm(không phải liên tục mà từng đợt) khi trong buôn làng có đám tang. Còn trong lễcúng chúc thọ chỉ được đánh chiêng đến nửa đêm là nghỉ. Khi trong buôn làngbình thường mà diễn tấu chiêng quá nửa đêm là cấm kỵ, bởi việc này diễn ra cộngđồng tưởng lầm nhà đó có người bị chết đột ngột.
Đối với gia đình, cồng chiêng được diễn tấutrong các lễ cúng gieo trỉa, lúa mới, mừng lúa mới về nhà; cưới hỏi, rước rể vềnhà vợ, thổi tai, đặt tên, mừng thọ, đám tang, lễ bỏ mả; cúng dựng nhà mới, lênở nhà mới và cúng sửa nhà.
Đối với cộng đồng buôn làng, cồng chiêng đượcdiễn tấu tại nhà chủ bến nước trong các dịp lễ cúng như cúng bến nước, cúng khibuôn làng bị dịch bệnh, cúng mừng mưa đầu mùa (một năm một lần), cúng lễkamdjir(bảy năm một lần).
Cách thức biểu diễn cồng chiêng của người Êđê rất bài bản: khi bắt đầu biểu diễn, người sử dụng chiêngcả(knahphun) bao giờ cũng gõ trước (10), tiếp đến làmduh, hliăng, khơk, hluê khơk,hluê hliăng, hluê khơk diêt, mduh, char(đệm),mong, hgơr(lúc đánhlúc không). Sự kết hợp ở đây đều tự nhiên, hài hòa đến mức hoàn hảo.
Người Ê đê rất giỏi cảm nhận âm thanh và tàinghệ khi biểu diễn cồng chiêng. Họ có thể hiểu ý nhau qua âm thanh để biểu diễnliền một mạch ba, bốn bài nhạc chiêng khác nhau, tức là nghệ nhân chủ sự dùngtiếng chiêng để báo cho những người trong nhóm sẽ chơi một bài chiêng nào đó.Chủ sự dùng ký hiệu âm thanh của chiêngđực(knah khơk)để làmký hiệu chuyển bài.Chiêng này nhắc bằng âm thanh chochiêngcái(knah hliăng) chuyển bài. Khi chiêng cái đã chuyển bài thìngay lập tức các nghệ nhân sử dụng các chiêng khác bắt nhịp theo.
Đặc điểm chung của âm thanh tiếng chiêng Êđê khi diễn tấu là dồn dập, sôi nổi, thôi thúc, hấp dẫn, lôi cuốn người nghe.Tiếng chiêng Ê đê âm vang mà đanh, sắc, gọn.
Cồng chiêng Ê đê nói riêng và cồng chiêngTây Nguyên có hai chức năng: chức năng văn nghệ và chức năng tín ngưỡng. Vềtrình tự thể hiện của chức năng văn nghệ và tín ngưỡng ở cồng chiêng Ê đê có sựđảo ngược so với diễn xướng khan sử thi. Chỉ sau phần thực hiện nghi lễ xong,các nghệ nhân sử thi mới diễn xướng khan. Còn cồng chiêng Ê đê việc diễn xướngđược tiến hành như sau: bài chiêng đầu tiên mang nội dung mời mọi người trongbuôn làng về đây sum họp vui vẻ, cùng uống rượu chia vui niềm vui được mùa, mọingười khỏe mạnh, hạnh phúc ấm êm. Đúng như lời của một bàiduê(văn vần)đã nói: các loài chim hót vang, tiếng chiêng vang vọng đất trời. Họ chúc nhauno ấm, vui vẻ như đàn trâu bò luôn luôn có bãi cỏ xanh để ăn. Cái không gian ởtrên trời là tiếng sáo diều, ở trong nhà là tiếng chiêng và những cánh rừngxanh đồng vọng tiếng chiêng là không gian văn hóa Ê đê thi vị, huyền ảo.
Sau phần nhạc chiêng vui tươi, giải trí,kích thích, phấn chấn người nghe, là nhạc chiêng phục vụ cho nghi lễ, tín ngưỡng.Người Ê đê coi cồng chiêng, phèng la(char)và trống da là các vật thiêngtrong nhà, nên họ rất quý trọng chúng. Và bản thân các nhạc cụ này cũng đáp ứngnhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của họ. Đồng bào cho rằng tiếng chiêng giúp chocon người giao tiếp với thần linh, tiếng chiêng làm cho các vị thần vui vẻ, vàcũng từ đó thần linh sẽ mang lại may mắn, hạnh phúc cho con người. Cho nêntrong các nghi lễ, chiêng luôn luôn được tấu lên. Thày cúng (pô riu yang) đọc lờicầu khấn thần linh trên nền của tiếng chiêng.
- Dântộc M’Nông có các bộ cồng chiêng goong pêh (3 cái) chiêng bor (6 cái). NgườiM’Nông đánh chiêng bằng cách đứng một hàng dài (theo thứ tự chêng nhỏ trước,chiêng lớn sau), mỗi người cầm chiêng bằng tay trái và dùng tay phải của mình đánh vào mặt trướccủa chiêng theo bài bản đã quy định cho từng nghi lễ.
Người Mơ nông gọi chiêng làching.Chiêng là đồ vật quý giá của đồng bào. Theo cố dịch giả Điểu Kâu, người Mơ nôngmua chiêng từ vùng người Việt, người Chăm.
Khi mua được bộ chiêng về nhà, chủ chiêng mờitất cả dân làng đến dự lễ cúng mừng và đặt tên cho bộ chiêng. Bộ chiêng được đặttên là gì là do chủ chiêng quyết định. Một bộ chiêng Mơ nông gồm sáu chiếc. Cómột điều thống nhất là: chiếc chiêng to nhất gọi là chiêngme(mẹ),thứ hai gọi là chiêngrlâm(chiêng cha), thứ ba gọi làchiêngnjơn,thứ tư gọi là chiêngtru,thứ năm gọi làchiêngthơ,thứ sáu gọi là chiêngkan.
Khi đánh chiêng, người Mơ nông xếp thànhhàng. Nếu xếp hàng ngang và đứng tại chỗ để diễn tấu chiêng thì người sử dụngchiêngmẹbao giờ cũng đứng ở vị trí cuối cùng phía bên phải. Nếu xếphàng dọc và vừa đánh vừa đi, người sử dụng chiêngmẹđi trước. Ngườisử dụng chiêngmẹđảm nhiệm việc đánh nhịp cho cả dàn chiêng. Nếu ngườiđánh chiêngmẹsai nhịp thì cả năm người đánh các chiêng còn lại đềumất phương hướng. Nghệ nhân dùng nắm tay phải dập vào chiêng, lòng bàn tay vàcác ngón tay (chủ yếu là ba ngón giữa) để điều chỉnh âm thanh. Khi diễn tấuchiêng, đồng bào đeo chiêng ở nách bên trái và khom lưng để chiếc chiêng xoaychuyển linh hoạt, nhờ vậy mà tiếng chiêng phát ra không bị chi phối bởi tác độngngoài mong muốn của con người (11).
Tiếng chiêng Mơ nông có âm điệu trầm trầm,âm thanh không ngân vang. Đến bon làng Mơ nông, thấy con người, ngôi nhà ở cócái gì đó bí ẩn, âm u, còn con người thì trầm lặng, lạnh lùng. Dấu hiệu này nằmtrong cái chung của tư duy nghệ thuật, nhận thức thẩm mỹ của cư dân này. Nếunhìn ra cả tộc người Ê đê, thì văn hóa cồng chiêng, sử thi, nhà ở của hai tộcngười này phản ánh rõ nét tính cách tộc người họ. Khi đưa sử thi, cồng chiêng trởlại đời sống buôn làng, tạo dựng kiểu dáng nhà cần đặc biệt chú ý đến các đặcđiểm này.

Xem thêm: Quy Trình Phản Ứng Chéo Trong Truyền Máu Và Xét Nghiệm Chéo Tại Giường


Cồng chiêng Tây Nguyên được sử dụng trongcác cuộc vui, trong các nghi lễ, lễ hội. Tiếng chiêng là phương tiện để con ngườigiao tiếp với thần linh. Các nghệ nhân diễn tấu chiêng có thể diễn tả các trạngthái tình cảm của con người, mô phỏng âm thanh của tiếng suối, tiếng gió, tiếngchim hót, tiếng thú kêu,... Nghe tiếng chiêng, người Tây Nguyên cảm nhận được nộidung mà người diễn tấu muốn truyền đạt. Cồng chiêng cuốn hút, lôi cuốn, hấp dẫnđồng bào như có sức thôi miên. Người Ê đê cho rằng uống rượu cần mà không có cồngchiêng thì coi như bữa cơm không có muối ớt.Còn người Mơ nông ai ai cũngthích nghe chiêng. Khi đang ngủ mơ màng nghe tiếng chiêng là họ bừng tỉnh và thứcđể nghe. Ai không biết đánh chiêng bị mọi người chê, thậm chí có khi trai khó lấyvợ, gái khó kiếm chồng.
-Dân tộc Ga Rai có dàn chiêngAráp (mỗi bộ có từ 12 đến 18 cái chiêngnúmg, kết hợp với 1 cái trống nhỏ). Người Gia Rai đánh chiêng bằng cách đứng 1hàng dài (theo thứ tự chiêng nhỏ trước,chiênglớn sau), tay trái cầm chiêng, tay phải cầm dùigỗ có bọc vải nhựa đánh vào mặt có núng của chiêng theo bài bải từngnghi lễ đã quy định (hoặc người ta treo chiêng vào một chiếc sào có hai ngườikhiêng và một đến ba người đánh).
-Cồng chiêng Ê Đê nhịp điệu dồn dập,phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn. Cả ban nhạc như những chùm âm thanh giàumàu sắc nối tiếp, đan xen, nghe rộn ràng hoành tráng như mua dông, như thác đổ,như sấm rền của rừng đại ngàn.
Cồng chiêng M’nông cường độ trầm ấm, tốc độchậm. tạo một bản nhạc khoan thai giưa những cuộc đối thoại sinh động của từngcặp chiêng với nhau. Có thể cảm nhận rằng đó là âm thanh của tiếng suối chảy,tiếng chim hót gọi nhau trong buổi hoàng h6n. cồng chiêng Gia Rai, Ba Na thiênvề tính giai điệu của âm nhạc. một bè trầm của cồng chiêng có núm vang lên vớiâm sắc đầy đặn, ngân nga, hùng tráng. Bên trên là bè giai điệu thánh thót vangxa giữa đất trời Tây Nguyên của dàn cồng chiêng không núm làm rung động lòng người.
Cồng chiêng Tây Nguyên lànơi tiết tấu và giai điệu gặp nhau, mỗi nhạc cồng chơi một nót và một mô hìnhtiết tấu, kết hợp lại thành bè, thành giai điệu . mỗi người dân Tây Nguyên là mộtnghệ sĩ, nhạc sĩ thực thụ có thể vừa hát vừa múa, sử dụng từng nhạc cụ hay thamgia vào giàn nhạc cồng chiêng một cách thành thạo. Khả năng âm nhạc của ngườiTây Nguyên được phát triển tự nhiên và phổ biến trong cộng đồng. ngay khi đứatrẻ vừa ra đời, người ta đã đem cồng đến đánh bên tai nó, gọi là lễ thổi tai. Cồngchiêng luôn có mặt trong các lễ cúng khi con người còn là thai nhi trong bụng mẹcho đến khi về với cội nguồn. trong các lệ hội thì cồng chiêng là phương tiệnduy nhất để con người thông linh (với thần) giao hòa với trời đất và giao tiếptrong cộng đồng.
Cồng chiêng Tây Nguyên đãđi và dân ca, truyền thuyết, sử thi của người Tây Nguyên. Nó trở thành bài cahoành tráng của người Tây Nguyên và được truyền tụng từ đời này qua đời khác: “Hãy đánh những cái chiêng kêu nhanh nhât.Đánh nhè nhẹ cho gió đưa xuống đất. Đánh cho tiếng chiêng vượt qua mái nhà vọnglên trời. đánh cho khỉ trên cây quên báo chặt cành đến phải ngã xuống đất, Đánhcho ma quỷ mê mãi nghe đến quên cả làm hại người, Đánh cho chột, sóc quên đàohang, cho rắn năm ngay đơ, cho thỏ phải giật mình, cho hươu, nai đứng nghe quênăn cỏ, cho tất cả chỉ còn nghe tiếng chiêng của Đam San” (Sử thi Bài cachàng Đam San).
Đến với Tây Nguyên (GiaLai, Kon Tum, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng) vui bước chân vào dòng lễ hội cồngchiêng truyền thống của người Gia Lai, Ba Na, Ê Đê…chúng ta không khỏi ngỡngàng đắm say bởi âm thanh của những bài chiêng, bộ chiêng, loại chiêng và tàinăng của người sử dụng với những bước chân nhịp nhàng của vòng xoan kéo trònkhông bao giờ cạn của các cô gái, chàng trai mến khách, dễ thương. Và điều đặcbiệt hơn là du khách đã đến thì dù biết hay không cũng không thể không một lầnbắt tay hòa nhịp hết mình vào giai điệu cồng chiêng Tây Nguyên giờ đây không nhữngrung rung ngân trong các buôn làng nhỏ hẹp mà đã vang xa, bay xa khắp nơi trênthế giới, là niềm vinh dự và tự hào của dân tộc Việt Nam.
Cồng Chiêngcũng như các nhạc cụ khác của Tây Nguyên thường không có lời ca kèm theokhi diễn tấu mà chỉ dùng âm thanh, tiếttấu và giai điệu của chính loại nhạc cụ ấy nói chung và cồng chiêng nói riêng đểbiểu đạt tình cảm, tư tưởng miêu tả cảnh vật thiên nhiên. Trong các lễ hội, tùythuộc vào vị trí của từng lễ hội mà các nghệ nhân dùng từng bài khác nhau chophù hợp. không được dùng bài bản của lễ hội này vào lễ hội khác, ví dụ như bài“Đón Khách” thì không được dùng trong lễ đâm trâu khi trâu đã xẻ thịt; trong tiệcvui mừng nhà rông, mừng lúa mới, mừng đám cưới thì không được dùng bài “Traovòng” hay “Bỏ mả”.
Theo quan niệm của các Già Làng: Cồng chiênglà loại nhạc cụ linh thiêng, nơi cư ngụ của các vị thần , cồng chiêng không đượcsử dụng một cách bừa bãi mà chỉ được sử dụng trong các lễ hội lớn của buônlàng. Cồng chiêng Tây Nguyên gắn bó mật thiết với mỗi đời sống người, mỗi giađình, dòng họ và nghi lễ cổ truyền của cộng đồng. nó được sử dụng trong hai hệthống lễ nghi: Nghi lễ vòng đời và nghi lễ nông nghiệp.
Trong nghi lễ vòng đời: Cồng chiêng đi suốtvòng đời của một con người, từ lúc còn nằm trong bụng mẹ, sinh ra, trưởngthành, xây dựng gia đình và trở về vớithế giới tổ tiên ông bà. Bao gồm các nghi lễ:lễ cúng khi người mẹ mang thai, lễcúng trước khi sinh, lễ cúng đặt tên – thổi tai, lễ cúng đầy tháng, lễ cúng đầynăm, lễ cúng đầy 3 mùa rẫy, lễ cúng trưởng thành (tròn 17 mùa rẫy), lễ cưới chồng,lễ cúng sức khỏe cho đôi vợ chồng, lễ cúng sức khỏe hàng năm cho các thành viêntrong gia đình, lễ cúng vào nhà mới, lễ rước Kpan, lễ kết nghĩa anh em, lễ tiếpkhách, lễ thang, lễ bỏ mả…
Trong nghi lễ nông nghiệp: Cồng chiêng gắnbó mật thiết vói nghi lễ vòng cây lúa ( hay còn gọi là nghi lễ nông nghiệp),bao gồm: lễ tìm đất, lễ phát rẫy, lễ đốt rẫy, lễ gieo hạt, lễ vun gôc, lễ cầuno đủ, lệ cúng cầu mùa, lễ cúng thần gió, lễ cúng cầu lúa trổ bông, lễ cúng cầulúa nhiều hạt, lễ cúng bến nước, lễ cúng hồn lúa, lễ cúng kho lúa, lễ cúng bầucơm và bầu đựng gạo, lễ tắm lúa…
Mỗi nghi lễ trên đều gắn với âm nhạc cồngchiêng do những nghệ nhân trong cộng đồng bôn làng thể hiện. cồng chiêng củabuôn làng Tây Nguyên được cấu trúc thành từng bộ độc lập.
Theo thống kê của Sở Văn hoá Thông tin Gia Lai, trước năm 1980 trong các bản làng của người Giarai, Bana trong tỉnh có hàng chục ngàn bộ cồng chiêng. Có gia đình sở hữu 2-3 bộ, mỗi bản làng có hàng chục bộ. Đến năm 1999, cả tỉnh có 900 p’lei và chỉ còn 5.117 bộ, năm 2002 còn lại chưa đến 3.000 bộ.
Tỉnh Lâm Đồng chỉ còn lại 3.113 bộ. Từnăm 1982 đến 1992, tỉnh Đắc Lắc đã mất 5.325 bộ chiêng, từ năm 1993 đến 2003lại mất tiếp 850 bộ, hiện tại cả tỉnh chỉ còn 3.825 bộ cồng chiêng.
Trước hết là sự suy giảm nhanh chóng vềsố lượng các dàn cồng chiêng... Nhưng nguy cơ mai một cồng chiêng còn thể hiệnở các bài bản nhạc chiêng dần dần bị lãng quên. Các nghệ nhân trải qua thờigian, do nhiều tác động khác nhau đã quên nhiều bản nhạc chiêng. Người Mnôngtrước đây có 40 bản nhạc chiêng, nay các nghệ nhân chỉ còn nhớ, lưu truyền vàtrình diễn được 10 bản nhạc chiêng. Mặt khác, những nghệ nhân có đôi tai thẩmâm, có năng khiếu trong việc chỉnh chiêng cũng thưa vắng dần trong các cộngđồng cư dân.
Đáng tiếc nhất là khi những người già,những nghệ nhân Tây Nguyên chết đi đã mang theo cả kho tàng di sản văn hoá cồngchiêng mà không dễ dàng tạo dựng và khôi phục được. Sự đứt gãy dòng chảy củavăn hoá truyền thống dẫn đến sự thờ ơ, hờ hững của lớp trẻ với văn hoá của cácthế hệ tiền nhân, trong đó có văn hoá âm nhạc cồng chiêng.
Khác với Nhã nhạc cung đình Huế, là mộthiện tượng văn hóa, để bảo tồn chúng ta chỉ cần đầu tư cho công tác nghiên cứuvà phát triển nghệ nhân biểu diễn, cồng chiêng không chỉ là nghệ thuật biểudiễn đơn thuần, mà gắn bó chặt chẽ với nghi lễ, với đời sống hằng ngày, vớichính không gian của vùng đất ấy. Vì vậy, cần có một chương trình tổng thể, quymô cho công việc này.
Trước mắt, cần đẩy mạnh công tác sưutầm, ghi chép và nghiên cứu một cách bài bản, hệ thống về cồng chiêng và văn hóacồng chiêng Tây Nguyên. Tiến hành phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hóa đểtạo môi trường diễn xướng của sinh hoạt văn hóa cồng chiêng trên quan điểm kếthừa có chọn lọc. Từng bước xây dựng phòng lưu trữ di sản văn hóa cồng chiêngTây Nguyên tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hóa (Viện Văn hóa-Thông tin) và tạicác bảo tàng tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Ðác Lắc, Ðắc Nông và Lâm Ðồng.
Ðồng thời có kế hoạch đào tạo dài hạn,cơ bản đội ngũ cán bộ khoa học am hiểu về âm nhạc truyền thống, văn hóa, lịchsử Tây Nguyên, chú trọng đào tạo cán bộ là người dân tộc thiểu số. Mở lớptruyền dạy kinh nghiệm đánh chiêng, chỉnh chiêng tại cộng đồng.
Theo số liệu thống kê cấp tỉnh năm 2007 thìKon Tum hiện còn khoảng 1.776 bộ cồng chiêng của các dân tộc thiểu số bản địa.Theo tập quán của các dân tộc thiểu số ở Kon Tum thì đa phần chỉ có đàn ông mớiđược đánh cồng chiêng, còn phụ nữ thì tham gia thể hiện nghệ thuật múa Xoang(dân vũ), song có những nhánh của dân tộc Xơ Đăng như Xơ Đăng Mơ Nâm ở huyệnKonPLông thì phụ nữ cũng được đánh chiêng. Hiện nay Kon Tum có khoảng 300 đội cồngchiêng ở các bản làng đồng bào dân tộc thiểu số. Có đội chỉ sử dụng một bộchiêng trong làng (như đội chiêngThacủa dân tộc B"Râu), có đội sử dụng2-3 bộ chiêng khác nhau trong một làng ( như các đội sử dụng các bộ chiêng cótên :Xteng, Hlengcủa người Xơ Đăng X"teng;Ania, PơSơi,Goongcủa người Gia Rai;Nỉ, Kh’leng, Xumcủangười GiẻTriêng…); có đội chiêng chỉ có 2 người như đội chiêngTha(dân tộcB"Râu),có đội đông tới 21 người như đội chiêngAniavới 18 lá cồng, chiêngkèm theo lục lạc, trống (người Gia Rai A Rap)...Điều đáng mừng là trong số nghệnhân diễn tấu cồng chiêng hiện nay, có đến 1/3 đang ở độ tuổi thanh niên và cókhông ít những thiếu niên tuổi 13, 14. Đấy chính là sức sống và sự trường tồn củavăn hóa cồng chiêng, một khi được tạo lập đầy đủ môi trường, điều kiện pháthuy. Thực tiễn sôi động trong sinh hoạt văn hóa cồng chiêng những năm vừa quacho thấy đã có sự chuyển biến trong nhận thức của đồng bào các dân tộc thiểu sốvà sức hút rất đặc biệt của văn hóa cồng chiêng trong đời sống văn hóa tinh thầnvà tâm linh của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng.Hiện đang xuất hiện khá nhiều “lớp” truyền dạy đánh cồng chiêng bằng nhiều hìnhthức từ những người lớn tuổi cho lứa thanh thiếu nhi trong các làng, bản.
Tuy nhiên, cũng đã nảy sinh những vấn đề cầnphải quan tâm từ thực tiễn về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cồng chiêng.Đó là sự phát triển chưa có tính bền vững, còn mang tính hình thức và chạy theophong trào. Cồng chiêng chưa thật sự được trả về với cái nôi đích thực của nótrong sinh hoạt văn hóa dân gian, gắn với ba điều kiện cơ bản bao gồm:Tính cộng đồng, cộng cảm; sự gắn kết với thiên nhiên, với kết cấu vật chấtvăn hóa cư trú làng-nhà Rông-nhà sàn; Lễ thức, nghi lễ truyền thống. Tách rờiba điều kiện ấy, văn hóa cồng chiêng chưa phải là chính nó !. Bởi thế, UNESCO mớicông nhận là Di sản thế giới bao hàm cảKhông gian văn hóa dân gian. Tìnhtrạng văn hóa cồng chiêng được sân khấu hóa, môi trường diễn xướng nặng vềtrình diễn, quảng bá đang xuất hiện ngày một nhiều. Ở một góc độ nào đấy cóthiên hướng lệch về mục đích, trở thành một nghệ thuật biểu diễn sân khấu, có đạodiễn, dàn dựng một cách áp đặt...bởi vậy hầu hết những bài chiêng được thể hiệnở những góc độ này chỉ là những bài chiêng bình thường, đơn giản mà đồng bàothường gọi là những bài chiêng“hội”( phục vụ sinh hoạt văn hóa đơnthuần mang tính vui chơi ). Còn những bài chiêng nghi lễ với những bài bảnnghiêm ngặt, được coi là quan trọng nhất gắn với yếu tố “thiêng” trong tâm linhcủa đồng bào, là những bài bản chiêng cổ truyền, thể hiện bản sắc truyền thốngcủa từng dân tộc, được quan niệm là phần “hồn” của cồng chiêng, thường được diễntấu trong các nghi lễ, lễ thức dân gian, lễ hội cổ truyền mà đồng bào gọi làchiêng“lễ”thì hầu như ít được đồng bào sử dụng trong những sân khấubiểu diễn như vừa qua. Yếu tố “thiêng” của cồng chiêng với vai trò là phương tiệnđể giao tiếp với thần linh theo tín ngưỡng đa thần trong đời sống tâm linh củađồng bào đang dần dần bị bình thường hóa đi phần nào. Thực tiễn cho thấy đangcó nguy cơ mất dần các bài chiêng cổ cực kỳ giá trị - như đánh giá của nhiềunhà khoa học - mất dần nghệ thuật diễn tấu, hòa âm đúng bài bản, bởi lớp ngườilớn tuổi đang dần dần qua đời mà không trao truyền lại được ! Nếu chỉ còn nhữngbài bản chiêng“hội”mà không còn những bài bản chiêng“lễ”, những bàibản chiêng cổ truyền thì văn hóa cồng chiêng sẽ trở nên thiếu vắng linh hồn, thựcsự báo động về việc những giá trị phi vật thể của cồng chiêng sẽ có nguy cơ maimột, trong khi đó nội dung chính được UNESCO công nhận là di sản văn hóa củanhân loại lại chính là phần phi vật thể, là những bài bản chiêng cổ truyền, làtiết tấu, giai điệu, thang âm, điệu thức, nghệ thuật diễn tấu, phương pháp truyềnkhẩu...đấy chínhlà phần hồn của văn hóa cồng chiêng.
Bởi vậy, nên phải có cái nhìn sâu sắc hơn nữavềKhông gian văn hóa Cồng chiêngtừ phía các nhà quản lý văn hóa cáccấp, để có những định hướng đúng đắn, những cách làm, bước đi phù hợp và thiếtthực cho mục tiêu bảo tồn, kế thừa và phát huy giá trị của văn hóa cồng chiêng.Vấn đề mấu chốt là phải làm cho văn hóa cồng chiêng thực sự mang tínhcộngđồng,gắn kết với tự nhiên, với kết cấu văn hóa làng và các lễ thức, nghilễ truyền thốngtrong không gian văn hóa dân gian của đời sống cộng đồngcác dân tộc thiểu số. Không chỉ chú trọng quá nhiều vào phần vật chất của cồngchiêng, mà cần phải đặc biệt coi trọng phần phi vật thể (phần hồn) của văn hóacồng chiêng. Nếu đánh mất đi nội dung quan trọng này thì phần vật chất của cồngchiêng cũng chẳng còn ý nghĩa gì. Cần phải lắng nghe ý kiến củađồng bàoxem họ nói như thế nào về cách thức bảo tồn và phát huy. Bởi đồng bào mớilàchủ nhân Không gian văn hóa Cồng chiêng, chỉ có chính họ mới bảo tồn sốngđược văn hóa cồng chiêng để phát huy giá trị trong đời sống và trường tồn vớithời gian.
*

Là nhạc cụ làm bằng các ống nứa dành cho namgiới thường đánh trên chòi rẫy hay trong nhà rông. Đàn Tơrưng có 2 loại: Loại 5ống và loại 10 ống, được kết thành 2 sợi dây mây ở 2 đầu ống nứa. khi chơi, ngườita buộc đầu dây phía các ống gắn vào một gốc cây, cột chì, đầu kia buộc quanh bụngngười đánh đàn.
Để dánh đàn Tơrưng người ta có 2 chiếc dùi,làm bằng tre hoặc gỗ, có bịt vải ở đầu, hiệu quả âm thanh là tiếng vang của ốngnứa được nghệ nhân cắt gọt tương ứng với âm: La – Đô – Rê – Fa – Sol.
Hiện nay, đàn Tơrưng được các nghệ nhân, nghệsĩ cải tiến thành nhiều ống và hiệu quả âm thanh khác nhau để tăng khả năng biểudiễn trên sân khấu chuyên nghiệp.
*

Nhạc cụ này rất phổ biến và quen biết với chúng ta, trong dân gianKlông-pút chỉ dành cho phụ nữ. Klông-pút cũng chỉ gồm 5 ông lồ ô có độ to, nhỏ,dài, ngắn khác nhau và cho ta 5 âm có quan hệ quãng như sau: La = Đô – Rê – FaĐ1/4 – Sol.
Hiệu quả âm thanh: Klông-pút là sự chuyển độngcột khí trong ống. khi chơi Klông-pút người ta đặt các ống nứa trên dàn theo thứtự và người chơi đứng khom người dùng 2 tay để vỗ hơi vào miệng ống tạo nên mộtchấn động đó là phương pháp tác động sinh âmvì thế Klông-pút là loại nhạc cụ hơi lùa.
Loại nhạc cụ này chỉ dành cho nữ giới và thườngchơi tại rẫy trong những lúc nghỉ giải lao . để chơi đượcKlông-pút ít nhất phảicó từ 2 người đến 4 – 5 người.
Dân tôc Brâu chơi Klông-pút kiểu hơikhác,Klông-pút chỉ có 2 ống nứa. một người đứng giữa giữ 2 ống nứa theo kiểu bắt chéo, 3 đến 5 người khác vỗ hơilùa vào 4 miệng của 2 ống , lúc thì vỗ, lúc thì bịt, tạo hiệu quả âm thanh rấtđộc đáo.
*

Đinh Túk gồm 6 ống nứa (lồ ô), đáy kín, ở miệngống có khoét một lõm hình vòng cung . khi chơi người ta đặt môi dưới vào vòngcung đó. Môi trên chúm vào, tạo một khe hẹp để vuốt hơi và luồng hơi chéo sangthành ống phía đối diện làm chuyển độngcột không khí chứa trong ống, tạo nên âm thanh.
Đinh Túk của dân tộc Giẻ Triêng do phụ nữ thổi(nếu nam giới thổi thì mặc trang phục phụ nữ). Đnh Túk thường được sử dụngtrong các lễ hội, trên nhà rông và trên nương rẫy. đinh Túk là loại nhạc cụ dễchế tác và sử dụng, tuy nhưng hiệu quả âm thanh rất độc đáo, tiếng Đinh Túk nhưlời thì thầm nhắn nhủ, như lời tỏ tình đằm thắm. Đinh Túk của làng Dục Nhầy xãDục Nông huyện Ngọc Hồi, chơi những bản nhạc thường mô phỏng hơi thở của thiênnhiên như: tiếng dế mèn, tiếng chim Hoong gọi bạn tình, rất nhẹ nhàng, êm đềmda diết.
Đinh Dựt: Được cấu tạo bởi ống lồ ồ (hoặc nứa)với 6 lỗ thoát âm và 6 sợi dây bằng cật tre nứa hoặc bằng kim loại. khả năng diễntấu của đàn Đinh Dựt cũng rất phong phú. Vì vậy giống như mbuốt, nhạc cụ này cónhiều sinh hoạt khác nhau và nó có khả năng “nói hộ tiếng lòng” cho người sử dụngvà thưởng thức, thuộc mọi tâm trạng của con người.
Các dân tộc Thái, Tày di cư vào Nam TrườngSơn mang theo mình chiếc đàn Tính Tẩu rất độc đáo của người thiểu số phía Bắc.Tính Tẩu có nghĩa là đàn bầu vì bầu cộng hưởng được làm từ trái bầu khô. Tính tẩutuy nghe không vang nhưng âm sắc khá độc đáo dùng để đệm cho hát – múa và cókhi độc tấu. Tính Tẩu được các dân tộc Tày, Thái ở Lâm Hà, Đức Trọng, Di Linh sửdụng nhiều.
Kho tàng âm nhạc dân gian của dân tộc Tháivùng Tây Bắc rất phong phú và đa dạng. Bất cứ nơi đâu trong bản làng của ngườiThái đều có thể thấy có các làn điệu dân ca thể hiện rõ phong cách riêng của mỗivùng mà nguyên nhân do sự truyền lại cho các thế hệ theo cách cảm thụ và rung độngriêng của mỗi nghệ nhân. Trong đó không thể thiếu tiếng cây đàn tính tẩu.
"Tính" tiếng Thái nghĩa là đàn,còn "Tẩu" nghĩa là quả bàu,Tính tẩunghĩa lađàn bàu.Trong cộng đồng người Thái có lưu truyền một huyền thoại về cây tính tảu: Chắcnhiều người biết về sự tích quả bàu trong huyền thoại về sự sinh ra các dân tộctrên trần gian.
Sau một trận hồng thủy trần gian chẳng cònai nên Nhà Trời đưa xuống một quả bàu có giống người và dùi một lỗ thủng bằngchiếc dùi nung đỏ cho giống người chui ra. Lỗ thủng ấy có vết đen người Xá chuira trước nên đen nhẻm cho đến bây giờ, người Kinh chui ra sau nên đỡ đen hơn...và mọi giống người đều từ quả bàu (có hình cái nậm rượu) mà ra cả. Sau khi từnggiống người chui ra khỏi quả bàu và trở thành các dân tộc, còn lại vỏ quả bàu ấynằm một mình trên tận nơi thượng nguồn chẳng còn ai nhớ gì đến nữa. Nơi thượngnguồn có nguồn nước trong và mát nên các tiên nữ thường xuống lấy nước về trời.
Trong bản Thái nọ có một chàng trai ngàyngày đi câu cá ngược theo suối nhưng mãi chẳng được con cá nào. Đến nơi cảnh đẹpthượng nguồn, chàng trai nghe tiếng các thiếu nữ đang cười đùa vui vẻ. Chàngbèn tìm chỗ ẩn nấp theo dõi. Nhờ vậy mà chàng phát hiện thấy các tiên nữ đi lấynước đang nô đùa xung quanh vỏ quả bầu. Thấy các tiên nữ làm sợi dây mảnh nối từquả bàu ngang qua miễng lỗ dùi khi có gió thổi làm cho sợi dây rung lên nhữngâm thanh êm ái mà chàng trai không thể bỏ đi được. Nghe nhiều ngày chàng traicàng mê không dứt ra được. Trời tối các tiên nữ rủ nhau bay về trời để lạichàng trai một mình nơi tiên cảnh. Chàng trai không chịu ngồi yên, chàng muốnnghe âm thanh từ quả bàu kia. Và thế là, chàng bắt chước chặt cành cây cắm xuốngđất, lấy sợi dây rừng xe thành sợi mảnh cũng nối từ cành cây cắm cọc xuống đấtkéo qua miệng lỗ dùi ở quả bàu và nằm chờ gió thổi. Nhưng chờ mãi chẳng được,chàng trai dùng tay bật thử sợi dây và thấy phát ra âm thanh. Âm thanh làmchàng trai say mê nghe hết ngày này sang ngày khác quên cả mọi việc đến nỗichàng không nhận ra rằng cành cây chàng cắm xuống đất đã mọc rễ và trở thành mộtcây thực thụ. Lúc này chàng trai muốn về bản báo tin vui cho dân làng. Chàng cầmquả bàu đi theo nhưng thấy vướng quá chàng đã dùng dao cắt bỏ phần ngọn của quảbàu quăng xuống suối. Còn lại phần phình to chàng giữ lại và chặt theo cành câymang về làm cần đàn, lấy vỏ cây làm sợi dây buộc qua miệng quả bàu vừa bị chặtphần ngọn vừa đi vừa gảy vừa hát. Tuy nhiên âm thanh ấy không còn hay như trướcnữa. Vì chàng không biết rằng phầnlinh thiêngcủa quả bàu đã bị chàng vứtxuống suối trôi về xuôi người Kinh vớt được và làm ra cây đàn bầu của ngườiKinh. Vì thế mà cây đàn bàu của người Kinh ngày nay hay hơn cây đàn bàu của ngườiThái.
Đấy là chuyện cổ tích. Tuy âm thanh của câytính tẩu không bằng cây đàn bầu của người Kinh như ngày nay chúng ta thấy.Nhưng sự tồn tại của cây tính tẩu trong đời sống tunh thần của người Thái có ýnghĩa quan trọng mọi lúc mọi nơi.
gồm có nhiều phiến đá mỏng phát ra âm thanh có âm điệu rõ rệt. Đốivới các dân tộc Tây Nguyên , những phiến đá này được xem như là báu vật và chỉdụng trong các dịp tổ chức lễ tết. Sau buổi lễ, những phiến đá được xoa máutrâu và được đem về cất vào vị trí trang trọng trong nhà.
Trống: Là loại nhạc cụ có mặt hầu hết cácdân tộc, Trống có mặt bịt bằng da súc vật, Tang trống thường làm bằng gỗ vàphình ra hoặc thẳn. Người ta đánh trống bằng nhiều cách khác nhau như dùng nhiềudùi gỗ, dùng gỗ, dùng tay, ngón tay và cả cùi tay. Nghệ thuật đánh trống củacác dân tộc Tây Nguyên rất phong phú. Đặc biệt là các nghệ nhân người Chu Ruthì tiếng trống trở nên có linh hồn và rất thân thiết.
Kèn, sáo, khèn: Là nhạc cụ gồm các loạikhoét lỗ vòm (sáo ngang, tiêu…), kèn dăm (kèn bó hay kèn đám ma), loại có lưỡigà rung tự do ( kèn bà, kèn bầu, sáo Mèo…) , Ở người Việt, kèn bóp là tiêu biểu.Âm sắc của loại nhạc cụ này nghe rộng ràng, vang xa. Nhạc cụ sáng giá nhất củangười thiểu số bản địa là kèn bầu (còn gọi là Mbuốt, hay mboắt). Phổ biến nhấtlà loại kèn bầu 6 ống, gồm một quả bầu và 6 ống trúc thoát hơi. Nếu đàn đá vàchiêng chỉ sử dụng trong các lễ hội thì kèn không bị ràng buộc, vì vậy mà hầunhư có mặt mọi lúc, mọi nơi. Khả năng diễn tấu của nó cũng phong phú vì nó thểhiện nhiều cung bậc tình cảm của con người. Tương tự, người Thái ở Lâm Đồng cóloại khèn bè gồm nhiều ống nứa ghép lại và đều có lưỡi gà để phát âm. Khèn cóthể độc tấu nhưng cũng có thể hòa tấu hoặc đệm cho múa và hát.
Còn rất nhiều các loại nhạc cụ khác như: ĐànGoong, Đàn Kơ ny, đàn B’rõ…Các loại trống, Sơ Gơ , Pa năng…được các dân tộc chếtác và sử dụng như những nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hằng ngày và trong nhữngnghi lễ quan trọng có thể nói âm nhạc Tây Nguyên là cả một thế giới phong phúvà huyền diệu, người Tây Nguyên yêu thích và gắn bó suốt đời với âm nhạc cổtruyền của mình. Nó chính là máu thịt của đồng bào. Âm nhạc thực sự giữ vai tròquan trọng trong đời sống, là tiếng nói tâm hồn thỏa mãn nhu cầu tình cảm thẩmmỹ.